Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

8 rắc rối của cơ thể biểu hiện trong 3 tháng giữa thai kỳ

Sau thời kỳ đầu mang thai là giai đoạn giữa thai kỳ.Thời kỳ này là khoảng thời gian dễ chịu nhất so với thời gian đầu (ốm nghén, mệt mỏi) và thời gian cuối (nặng nề khó đi lại di chuyển, tăng áp lực nên cơ thể).Tuy nhiên cơ thể bà bầu vẫn gặp phải rắc rối và biểu hiện là những khó chịu nhỏ khi đang ở giữa thai kỳ.Đó là những biểu hiện sinh lý hoàn toàn bình thường mà bà bầu nào cũng có thể gặp phải.Cùng Amigo tìm hiểu và khắc phục cũng như yên tâm hơn rằng bạn hoàn toàn khỏe mạnh.
Những rắc rối của quá trình mang thai như táo bón, chóng mặt, nhiễm trùng đường tiểu… có thể sẽ xảy ra đối với một số bà bầu ở 3 tháng giữa - là khoảng thời gian từ tuần thứ 12 đến tuần thứ 26 của thai kỳ.

1. Mệt mỏi giữa thai kỳ :

Mặc dù 3 tháng giữa thai kỳ được coi là quãng thời gian dễ chịu nhất trong suốt quá trình mang thai nhưng đôi lúc vẫn khiến bạn mệt mỏi.

Những cơn mệt mỏi ở giai đoạn này thường xuất hiện vào buổi chiều sau một ngày làm việc dài. Nếu ở trên cơ quan, mẹ bầu có thể nghỉ một lát và ăn một chút hoa quả cũng như đứng lên đi lại vài vòng. Còn nếu đang ở nhà, bạn có thể ngủ một giấc ngủ ngắn lúc xế chiều.

Yoga dành cho bà bầu có thể giúp bạn khắc phục mệt mỏi, lại làm chắc khỏe các dây chằng xung quanh xương chậu. Điều này khiến cơn chuyển dạ dễ dàng hơn.

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy không khỏe thì đến gặp bác sĩ là lựa chọn tốt nhất cho mẹ bầu trong trường hợp này.


2. Khó thở giữa thai kỳ

Đến 3 tháng giữa của thai kỳ, không ít thai phụ gặp trục trặc trong quá trình hô hấp. Họ cảm thấy tự nhiên khó thở, có thể kèm theo các triệu chứng khác như tim đập nhanh, chân tay run rẩy, cơ thể mệt mỏi…

Nguyên nhân của tình trạng khó thở là do trong giai đoạn thai nghén, người mẹ cần nhiều oxy hơn và thở nhanh là một trong những cách để lấy oxy vào cơ thể.

Hormone progesterone tăng lên, ảnh hưởng trực tiếp đến phổi, kích thích trung tâm điều khiển hô hấp trên não. Kết quả, nhịp thở trở nên khó khăn và gấp gáp hơn. Bên cạnh đó, việc bào thai lớn lên gây sức ép lên lồng ngực và phổi khiến bạn khó thở nhiều hơn.

Tình trạng khó thở và thở gấp khi mang thai phần lớn là bình thường và không gây hại. Mẹ bầu nên tăng cường nghỉ ngơi, khi ngồi thì nên ngồi thẳng và giữ cho vùng lưng được thẳng khi ngồi để phổi có khoảng không dễ dàng khi tiếp nhận oxy.

Ngay cả khi đứng, bạn cũng nên giữ vùng lưng được thẳng. Cong người lại sẽ khiến bạn khó thở hơn. Khi ngủ, có thể kê vài chiếc gối nhỏ ở phần thân trên để tránh áp lực của thai nhi chèn lên phổi.

3. Vụng về giữa thai kỳ

Khi mang thai, nhiều mẹ bầu thấy sự khéo léo thường ngày của mình dường như bay đi đâu mất. Bụng bầu to lên khiến bạn dễ mất thăng bằng, dẫn tới vấp, ngã. Để khắc phục, mẹ bầu cần tránh đi lại trên sàn trơn, nên đi giày (dép) phù hợp.

Phần lớn các trường hợp lóng ngóng khi mang thai là bình thường, do thay đổi ở thể chất người mẹ. Ngoài ra, hội chứng ống cổ tay có thể gây đau, tê ngón tay cũng làm bạn vụng về hơn thì mẹ bầu cần đi khám sớm.

7 rắc rối mẹ bầu gặp phải trong 3 tháng giữa thai kỳ 1
3 tháng giữa được coi là dễ chịu nhất trong thai kỳ, tuy nhiên mẹ bầu vẫn có thể gặp phải những rắc rối. (Ảnh minh họa)

4. Đau háng giữa thai kỳ

Những cơn đau nhói, ngắn sẽ xuất hiện ở khu vực này nhưng từ tuần 24 trở đi. Thông thường, cơn đau sẽ mạnh hơn khi đứng hoặc di chuyển. Nó cũng có thể xảy ra khi đi bộ, ho hoặc thay đổi tư thế (như vừa bước ra khỏi ôtô).

Có rất nhiều lý do gây nên những cơn đau bất thường này. Một trong số đó là vì dây chằng và các cơ tử cung đang giãn ra để tạo chỗ cho bào thai phát triển. Nhiều thai phụ thấy đau nhói, thường ở một bên háng.

Đau háng cũng có thể là triệu chứng của nhiễm trùng đường tiểu. Điều này phải được bác sĩ chẩn đoán và điều trị sớm.

Ngoài ra, đau háng cũng có thể là dấu hiệu thai ngoài tử cung (trứng đã thụ tinh thường làm tổ ở ống dẫn trứng), đặc biệt nếu kéo theo hiện tượng ra máu kéo dài. Hãy đi khám thường xuyên và tuân thủ chỉ dẫn từ bác sĩ.

5. Đau nhức giữa thai kỳ

Đau nhức có thể gia tăng khi thai nhi phát triển. Bạn có thể phải đối mặt với những cơn đau lưng dữ dội. Yoga và tư thế ngồi đúng sẽ giúp bạn hạn chế cơn đau lưng.

Bạn cũng có thể bị phù, khó chịu ở chân và mắt cá chân. Khi ngồi xuống, hãy xoay bàn chân của bạn và tránh ngồi bắt chéo. Ngoài ra, hãy kê chân lên một cái bục khi ngồi.

6. Chóng mặt giữa thai kỳ

Vào lúc nào đó, bạn sẽ thấy bị chóng mặt nhất là khi nằm ngửa. Điều này là do trọng lượng của thai ép lên các tĩnh mạch mang máu từ phần dưới cơ thể quay lại tim. Nguy hiểm lớn nhất của chóng mặt là làm bạn bị ngất.

Để tránh chóng mặt, nên hạn chế nằm ngửa trong quý II-III. Thay vào đó, hãy nằm nghiêng về bên trái hoặc kê một chiếc gối phía hông khi bạn nằm nghiêng.

Lượng đường trong máu hạ cũng có thể gây nên chóng mặt. Bạn nên duy trì đồ ăn nhẹ giữa các bữa ăn để cân bằng lượng đường trong máu. Nếu thấy hoa mắt, bạn cần ngồi xuống và ăn một chút. Chuối là thức ăn nhanh tuyệt vời vì nó cung cấp năng lượng nhanh; đồng thời, chuối còn giàu kali, giúp giảm sưng phù.

Hãy uống đủ nước vì thiếu nước sẽ làm bạn chóng mặt.

7. Rạn da giữa thai kỳ

Khi thai nhi lớn lên, thai phụ thấy da bị căng và xuất hiện vết rạn ở ngực và bụng. Bạn đừng quá lo lắng vì rạn da là điều bình thường, có thể mờ dần và mất hẳn sau một thời gian. Cách tốt nhất để phòng tránh và hạn chế rạn da là giữ cho cơ thể không bị mất nước và giữ ẩm cho da bằng một loại kem an toàn.

8. Táo bón giữa thai kỳ

Nhiều thai phụ bị táo bón trong 3 tháng giữa thai kỳ. Để tránh táo bón, mẹ bầu hãy uống nhiều chất lỏng và dùng các thực phẩm giàu chất xơ. Ngồi nhiều cũng khiến bạn bị táo bón, vì vậy nên di chuyển thường xuyên hơn.

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Cảm nang bà bầu tháng thứ 4.Dinh dưỡng cho mẹ và sự phát triển của bé

Tháng thứ 4 bắt đầu giai đoạn 3 tháng giữa thai kỳ,thời điểm này những biểu hiện ốm nghén của thai phụ cũng ổn định.Thai nhi phát triển nhanh hơn,nên việc bổ sung dinh dưỡng cũng như chú ý đến sự phát triên của cân năng thai phụ rất quan trọng.

1.Em bé phát triển như thế nào?

Thời gian này em bé tăng trưởng rất nhanh thậm chí là nhảy vọt trong giai đoạn này.
 Trong vài tuần tới đây, bé sẽ tăng gấp đôi trọng lượng và dài thêm chục cm nữa. Lúc này, bé to cỡ một quả bơ: hơn 11cm (đầu đến mông) và nặng gần 100g rồi. Đôi chân của bé phát triển đáng kể, đầu cũng đã đứng thẳng hơn, và mắt đã chuyển đến gần nhau ở phía trước đầu. Đôi tai của bé cũng đã gần như ở đúng chỗ của mình. Cấu trúc da đầu đã bắt đầu hình thành, mặc dù các nang tóc chưa thể nhận ra được. Bé thậm chí cũng đã bắt đầu mọc móng chân. Và khá nhiều thay đổi cũng đang diễn ra bên trong, tim bé hiện tại bơm khoảng hơn 25 lít máu mỗi ngày và lượng máu sẽ tiếp tục tăng khi cơ thể bé tiếp tục lớn lên.

 2.Cuộc sống của mẹ thay đổi như thế nào?

Đỉnh tử cung của mẹ đang ở khoảng giữa xương mu và rốn, và các dây chằng xung quanh hỗ trợ cho nó đang dày lên và căng ra khi tử cung tăng trưởng. Mẹ hẳn sẽ cảm thấy khá hơn nhiều và lúc này khi mẹ sẽ ít buồn nôn hơn, tâm trạng ổn định hơn và làn da rạng rỡ hơn.
Chẳng bao lâu nữa mẹ sẽ trải nghiệm được khoảnh khắc tuyệt vời nhất của thai kỳ – cảm giác thai máy. Một số bà mẹ nhận thấy thai máy sớm hơn ở tuần thứ 15, trong khi nhiều bà mẹ khác phải đến tuần 17 mới có thể cảm nhận được cử động của con hoặc hơn nữa. (Và nếu đây là bé đầu lòng của mẹ, hãy kiên nhẫn vì mẹ có thể không nhận ra bé cử động cho đến tuần 19 hoặc hơn nữa.) Những cử động sớm nhất có thể cảm thấy như một nhịp đập nhỏ, bóng khí, hoặc thậm chí giống bắp nổ. Vào những tuần tiếp theo, những cử động này sẽ mạnh dần và mẹ có thể cảm thấy chúng nhiều và thường xuyên hơn.
Về tăng cân ở bà bầu :
Nếu bà bầu có cân nặng trung bình, hãy nhắm mức tăng cân trong khoảng 5.5 – 6.3 kg trong tam cá nguyệt này (trong tổng 11-16kg cả thai kỳ). Bác sĩ hoặc điều dưỡng có thể khuyên bà bầu nên tăng nhiều hoặc ít hơn một chút nếu bài bầu hơi thừa hoặc thiếu cân khi bắt đầu có thai.

Dinh dưỡng cho bà bầu khi mang thai ở tháng thứ 4:


Ở tháng thư 4 sự tăng trưởng của thai nhi nhảy vót so với giai đoạn trước.Nên mức độ dinh dưỡng cũng như thực phẩm mỗi ngày đưa vào cơ thể mẹ cần đảm bảo cả chất và lượng.
Thời kỳ này bà bầu  nên ăn làm nhiều bữa. Và lưu ý không nên nhai lệch về một bên hàm và nhai kĩ rồi mới nuốt. Không nên ăn những loại thức ăn chứa các chất kích thích như: rượu, bia... và không hút thuốc lá. Nên ăn những loại thức ăn có chứa nhiều vitamin.
Ở tháng thứ 4, thai nhi đã phát triển đầy đủ các bộ phận trên cơ thế và thông qua hình ảnh siêu âm, chúng ta có thể xác định được giới tính và đo được nhịp tim của bé.
Kể từ giai đoạn này trở đi, khi ăn uống bà bầu cần chú ý: không cần ăn uống quá nhiều, nhưng dinh dưỡng phải cân bằng như: protein, hydratcacbon, chất béo, chất vô cơ, vitamin, chất xơ…
- Vitamin A: Có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật. Các loại rau quả có màu đậm (như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ...) có nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A.
- Vitamin B1: Có nhiều trong ngũ cốc và các loại đậu (hạt) như gạo, bột mì, bột đậu xanh...
- Vitamin B2: Hạt ngũ cốc toàn phần, thức ăn có nguồn gốc động vật.
- Vitamin B6: có nhiều trong gan bê, ruốc thịt, thịt gà, ngô...
- Vitamin B9 (hay còn gọi là axit  folic) có nhiều trong măng tây, rau xanh, gan, thịt gà, trứng.
- Vitamin PP: Lạc, vừng, đậu các loại, rau ngót, giá đậu xanh, cải xanh, rau dền đỏ, rau bí, thịt, cá, tôm, cua, ếch.
- Vitamin B12: Pho mát làm từ thịt dê và thịt cừu, cá, quả hạnh nhân, cải xoong, dưa bắp cải, sữa tươi, sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành, nước khoáng...
- Vitamin C:  Rau xanh (rau muống, rau ngót, bắp cải, cải xoong), quả chín (cam, chanh, bưởi, xoài, ổi...), khoai tây, khoai lang, củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi, ...
- Vitamin D: Dầu gan cá, cá, gan, lòng đỏ trứng, thịt lợn, chất béo của sữa.
Vitamin E: Các loại dầu (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu cọ...), rau dền, giá đậu, quả mơ, quả đào, gạo, ngô, lúa mì.
Trong bất cứ giai đoạn nào của thai kỳ thì việc đảm bảo sự phát triển ổn định của thai nhi cũng như sức khỏe của bà mẹ đều quan trọng.Tháng thứ 4 là thời điểm quan trọng và nhảy vọt về sự tăng trưởng của thai nhi,càng cần được lưu ý hơn.Thời kỳ này thai phụ cũng dần ổn định nên việc ăn uống cũng dễ dàng hơn.Hãy bắt đầu tìm cho mình những trang phục phù hợp và rỗng rãi hơn.Đảm bảo cho cơ thể bạn cũng như sự tăng kích thước thai nhi.
 st: Amigo 

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Mang thai tháng thứ 4 và thay đổi của cơ thể bà bầu


Tháng 4 bạn bắt đầu trông có vẻ mang bầu, bạn cũng cảm thấy con bạn cử động lần đầu tiên. Bụng bạn sẽ bắt đầu tròn hơn và eo của bạn sẽ to lên thấy rõ. Bạn có thể cảm thấy khó chịu khi mặc quần jean hoặc váy đầm. Tuy nhiên có lẽ vẫn còn quá sớm để bắt đầu mặc đồ bầu. Chỉ mặc áo, váy rộng rãi hơn và quần bằng vải bông hoặc bộ đồ liền quần.

Mặc dù bạn vẫn còn cảm thấy mệt mỏi vào buổi chiều, nhưng có thể bạn sẽ phấn chấn với nguồn năng lượng mới và những cảm giác mệt mỏi, buồn nôn sẽ biến mất. Bây giờ là lúc bắt đầu xem xét sự lên cân của bạn. Như vậy không có nghĩa là bạn cố hết sức giữ trọng lượng của bạn ở mức hiện giờ và ăn thức ăn ít calo điều này có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của bào thai. Ngược lại bạn phải ăn một cách hợp lý và tránh những thức ăn có nhiều calo và ít chất bổ, như bánh nướng, bích quy và kẹo.
thay đổi của bà bầu khi mang thai tháng thứ 4


 Một đường màu sẫm có thể xuất hiện ở dưới bụng của bạn từ rốn hoặc cao hơn tới vùng mu. Đừng lo lắng, đây là đường linea nigra, nó sẽ biến mất sau khi sinh. Có thể bạn cũng thấy những dấu hiệu đầu tiên của các vết rạn. Mặc dù chúng nhạt đi sau khi sinh nhưng tốt nhất là tránh nếu có thể.

Khi mang thai tháng thứ 4, thường sau tuần thứ 16 sự xuất hiện của colostrums (sữa non). Đó là thức ăn bổ dưỡng lý tưởng cho con bạn trong những ngày đầu tiên của cuộc sống. Bây giờ bạn nên chăm sóc ngực mỗi ngày.

Thời điểm thú vị nhất sẽ là khi bạn thật sự cảm thấy cử động của con bạn bên trong bạn. Điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào kể từ sau tuần thứ 16. Đầu tiên, cảm giác sẽ giống như là con bướm nhỏ đang vẫy cánh trong bụng bạn, nhưng chúng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn rất nhanh chóng. Và bây giờ bạn có thể biết về cái cơ thể sống động bên trong bạn.

 Phát triển của con bạn khi mang thai tháng thứ 4

 Mặc dù con bạn chỉ nặng khoảng 150g, nó đang phát triển nhanh vào cuối tháng thứ 4. Trên đầu thai nhi có tóc, lông mày và mỗi ngày trông thai nhi giống con người hơn một chút. Lúc đó thai nhi được bao phủ bởi một đám tóc tươi tốt được gọi là lanugo. Trong miệng của bào thai, 2 nửa vòng miệng của thai nhi đã nối lại với nhau và những phần quan trọng nhất của xương đang phát triển để thay thế cho sụn trong bộ xương của thai nhi. Xương của bào thai không ngừng phát triển cho đến khi sinh. Mắt của thai nhi nhắm lại vì các mi mắt đã phát triển cùng với nhau trong suốt tháng thứ 3 và không mở nữa cho đến tháng thứ 7 của kỳ thai nghén.

Vào thời gian mang thai tháng thứ 4 con của bạn bắt đầu mút ngón tay cái. Đây là một trong những phản xạ sớm nhất và có lẽ đó là sự an ủi vào thời kỳ đầu này. Đứa bé đá chân trong dạ con, nó có thể nghe mạch đập của bạn, tiếng lào xào trong nhau và kể cả giọng của bạn. Vì như vậy sự tồn tại của bào thai không hoàn toàn yên lặng và bất động. Nó tồn tại trong môi trường chuyển động ồn ào tương đối
Theo chamsocmevabe

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

6 dưỡng chất không thể thiếu trong thời kỳ mang thai

Để bảo dinh dưỡng cho cả mẹ và thai nhi trong thời kỳ mang thai ,thai phụ cần cân đối chế độ ăn với những thực phẩm phù hợp, đảm bảo các dưỡng chất cần thiết để sinh con khỏe mạnh, thông minh.

Theo Thạc sĩ, bác sĩ Trần Việt Cường, Trưởng khoa sản thường, Bệnh viện Nhân dân Gia Định (TP HCM), thời kỳ mang thai và hậu sản, nhu cầu muối khoáng, canxi, phốt pho và sắt đặc biệt tăng. Các thức ăn thông thường không cung cấp đủ dinh dưỡng nên sản phụ cần ăn thêm sữa, bơ, trứng, thịt, gan, các loại rau lá xanh đậm, cà chua, rau diếp… Chú ý cân đối bổ sung vitamin, các chất khoáng và các yếu tố vi lượng hợp lý.

dưỡng chất quan trọng cho mẹ mang thai


Nhu cầu tăng cường chất dinh dưỡng tăng nhiều trong thời kỳ mang thai bao gồm :

Canxi và phốt pho

Canxi giúp chắc xương, tạo răng. Nếu chế độ ăn thiếu canxi, người mẹ bị loãng xương, hư răng, con có thể bị mềm xương sọ, thóp rộng, cơn khóc tím tái do co thắt, có thể bị co giật do hạ canxi. Nhu cầu canxi và phốt pho là 1,5g một ngày, trong thời kỳ hậu sản có thể tăng lên 2g một ngày. Nhu cầu này ở phụ nữ không mang thai là 0,8g một ngày.

Để có đủ canxi, mỗi ngày cần bổ sung 1-2 ly sữa (khoảng 400ml), 100-200g cá, hải sản (nên ăn luôn vỏ, xương), cá hộp, hoặc 50g mè.

Acid folic

Acid folic cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể. Khi thiếu acid folic ở phụ nữ có thai dễ gây ra thiếu máu dinh dưỡng đại hồng cầu và gây dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Nhu cầu acid folic ở phụ nữ mang thai cao hơn bình thường, cần 600 µg một ngày.

Acid folic có nhiều trong các loại rau có lá to, bắp cải, măng tây, bông cải xanh và trắng, cam, chuối, cật, trứng... Hiện nay sử dụng viên bổ sung acid folic cho phụ nữ mang thai 400 µg một ngày được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Cần lưu ý phải uống bổ sung sớm ngay khi phát hiện có thai và liên tục đến tuần thứ 12.

Sắt

Sắt rất cần thiết cho cả mẹ lẫn con. Nhu cầu sắt của phụ nữ không mang thai là 15-16mg một ngày, tăng lên 20-30mg một ngày ở phụ nữ mang thai và trong thời kỳ hậu sản.

Thiếu máu dinh dưỡng là bệnh hay gặp ở phụ nữ có thai, đặc biệt là ở những người đẻ dày và ǎn uống thiếu thốn. Bệnh thiếu máu có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ cả mẹ lẫn con. Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro. Tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn hẳn ở bà mẹ bình thường. Thiếu máu cũng thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp.

Sắt có nguồn gốc động vật dễ hấp thu hơn sắt có nguồn gốc thực vật. Các thức ǎn có nhiều chất sắt là các loại thịt có màu đỏ như thịt bò, phủ tạng như tim, gan, cật..., các loại đậu, các loại rau xanh như rau ngót, rau dền, rau khoai, rau bí, các loại đậu, mè... Một số thực phẩm chế biến sẵn được tăng cường sắt như bột dinh dưỡng, bột mì, nước mắm, mì tôm cũng là nguồn cung cấp sắt quan trọng trong phòng chống thiếu máu.

Ngay từ khi bắt đầu có thai, tất cả các bà mẹ nên uống viên sắt. Với loại viên có hàm lượng là 60mg sắt nguyên tố, mỗi ngày uống một viên giữa bữa ăn hoặc trước khi ngủ, không uống kèm với sữa, nước trà, cà phê. Uống liên tục trong suốt thời kỳ có thai đến một tháng sau khi sinh.

Để tǎng quá trình chuyển hoá và hấp thu sắt, cần tǎng cường vitamin C, do đó cần ǎn đủ rau xanh và quả chín.

Vitamin A

Cơ thể mẹ cần có một lượng vitamin A dự trữ đủ để cung cấp cho con và tăng sức đề kháng cho mẹ. Nhu cầu vitamin A của phụ nữ mang thai cao hơn so với bình thường, 800 µg một ngày. Tuy nhiên nếu phụ nữ mang thai tiêu thụ quá nhiều vitamin A có thể gây quái thai.

Vitamin A có nhiều trong các thực phẩm có nguồn gốc động vật như gan, lòng đỏ trứng, bơ, sữa, thịt… rau quả có màu xanh, màu vàng, đỏ.

Vitamin D

Vitamin D cần thiết cho sự hấp thu canxi và phốt pho, góp phần cấu tạo xương. Thiếu vitamin D sẽ dẫn tới nhuyễn xương, co giật do hạ canxi máu, loãng xương.

Nguồn cung cấp vitamin D quan trọng cho cơ thể là do sự tổng hợp trong da dưới tác dụng của của ánh sáng mặt trời. Thực phẩm có nguồn gốc động vật giàu vitamin D là gan, cá, trứng, bơ, sữa, các loại cá béo.

Vitamin B1

Nhu cầu vitamin B1 ở phụ nữ mang thai cần cung cấp đủ để phòng tránh bệnh tê phù. Nhu cầu này sẽ được đáp ứng khi sử dụng gạo không xay xát trắng quá, chế độ ăn nhiều hạt họ đậu. Những thực phẩm thiếu vitamin B1 là các loại đã qua chế biến ví dụ như gạo xát quá trắng, các loại ngũ cốc, dầu mỡ tinh chế và rượu. Thực phẩm giàu vitamin B1 là thịt lợn, các loại hạt đậu, rau, các loại sản phẩm từ nấm mốc, men, một số loài cá.

Iốt

Iốt có vai trò rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai. Hậu quả nghiêm trọng nhất của thiếu iốt là ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai. Phụ nữ mang thai thiếu iốt có nguy cơ sảy thai, thai chết lưu, sinh non, trẻ sinh ra sẽ bị chậm phát triển trí tuệ do tổn thương não, cân nặng sơ sinh thấp, ngoài ra dễ bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay chân, nói ngọng, điếc, câm, lé. Thiếu iốt dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong chu sinh.

Thực phẩm giàu iốt là cá biển, rong biển. Sử dụng muối ăn có bổ sung iốt là giải pháp chính để phòng chống các rối loạn do thiếu hụt iốt. Nhu cầu iốt ở phụ nữ mang thai cần cao hơn bình thường, 200 µg một ngày.

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

9 điều cần nói KHÔNG với bà bầu

1. Rượu bia, thuốc lá

Hầu hết mọi người đều biết rượu và thuốc lá rất có hại cho mẹ bầu. Nhưng có thể bạn chưa biết, nếu bạn uống rượu, sức khỏe của em bé sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, thậm chí bé còn gặp những vấn đề nguy hiểm trong suốt cuộc đời. Tránh sử dụng rượu, thuốc lá cũng như những nơi có khói thuốc chính là cách để bạn nói lời yêu với con bạn. Ngay cả với bia thì nồng độ cồn trong đó cũng không thể an toàn cho em bé được.
bà bầu

Hãy giữ cho tinh thần luôn luôn thoải mái.

2. Thức ăn nhanh

Có những mẹ bầu bỗng dưng trở thành fan của món gà rán ở tiệm. Món này quả thực rất hấp dẫn, đặc biệt với cái bụng lúc nào cũng có xu hướng cồn cào của các mẹ. Nhưng hãy hạn chế, nếu quá thèm, chỉ nên sử dụng món đó 1-2 lần/tuần. Sử dụng đồ ăn nhanh sẽ khiến bạn mất cân bằng độ dinh dưỡng, gây ảnh hưởng tới sức khỏe và tăng cân nhanh. Cách tốt nhất hãy tự nấu nướng ở nhà, và luôn chuẩn bị sẵn đồ ăn vặt là hoa quả tươi để đề phòng những lúc bạn thèm ăn.

3. Giày cao gót

Thực ra giày cao gót không quá ảnh hưởng tới sức khỏe của em bé. Một số mẹ bầu vẫn sử dụng giày kiểu này vì không muốn trông mình quá nặng nề. Tuy nhiên, bạn cần tính đến rủi ro khi đi giày cao gót, bởi nguy cơ té ngã sẽ xảy ra nhiều hơn, đặc biệt với đôi giày trên 5cm. Một đôi giày cao cũng có thể làm tăng nguy cơ sưng ngón và mắt cá chân và sẽ làm bạn cảm thấy đau nhóivùng hông, thắt lưng.

4. Cảm giác nóng nực

Khi mang thai, điều quan trọng là biết kiểm soát nhiệt độ cơ thể, tránh để rơi vào tình trạng quá nóng, bởi nó rất có hại cho em bé. Cũng cần bỏ thói quen ngâm mình trong bồn nước nóng hay nằm phơi mình ngoài bãi biển ngập nắng. Thay vào đó, nếu cảm thấy mỏi mệt, bạn chỉ cần ngâm bàn chân trong chậu nước nóng để làm dịu cơ thể.

5. Căng thẳng

Bà bầu ngày nay thường ít được nghỉ ngơi bởi công việc bận rộn, tuy nhiên, bạn cũng cần tránh áp lực, stress. Các nghiên cứu đã chứng minh mối liên kết giữa stress và các rối loạn bẩm sinh như chứng tự kỷ và tâm thần phân liệt giữa thai phụ và em bé trong bung. Cách tốt nhất là giữ cho tinh thần lạc quan, suy nghĩ tích cực và nhờ mọi người cùng san sẻ bớt công việc, bạn sẽ thấy thoải mái hơn.

6. Các loại thuốc

Bà bầu không nên tự ý sử dụng thuốc nếu không có chỉ định của bác sĩ. Với tiết trời thất thường ngày hè, nếu bạn bị cảm cúm, cảm lạnh, cách tốt nhất là nên tới khám bác sĩ để tìm ra cách điều trị. Các mẹ cũng có thể sử dụng các món ăn có nhiều tỏi trong thời gian này để phòng cảm cúm.

7. Cà phê

Thực tế cà phê không là chất cấm với thai phụ. Nhiều phụ nữ vẫn sử dụng cà phê đều đặn khi họ có bầu. Tuy nhiên, đây rõ ràng là món không bổ dưỡng cho em bé của bạn. Nếu bạn cảm thấy có thể sống thiếu cà phê, cách tốt nhất là hãy cắt giảm chúng trong thực đơn mỗi ngày.

8. Tập luyện nặng

Đừng nghĩ mang bầu là cớ để bạn hạn chế vận động, bởi tập luyện nhẹ nhàng sẽ tốt cho phụ nữ mang thai. Nhưng cần lưu ý tới các bài tập và có thể hỏi ý kiến chuyên gia. Các môn chạy bộ, nhảy dây rõ ràng sẽ không dành cho bạn, thay vào đó, hãy đạp xe, đi bộ hoặc bơi lội bởi đây là các bài tập giúp cho việc sinh nở dễ dàng hơn.

9. Mỹ phẩm, hóa chất

Những sản phẩm xịt tóc, sơn móng tay, sản phẩm tẩy rửa wc, sơn cửa đều rất có hại nếu bạn hít phải. Cách tốt nhất là hạn chế sử dụng mỹ phẩm trong thời gian này, thay vào đó bạn có thể chăm sóc da với các sản phẩm từ thiên nhiên. Đối với việc nhà, cách tốt nhất hãy nhờ ông xã nếu bạn muốn sơn cửa, sơn tường hay sử dụng các sản phẩm tẩy rửa.

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Nhóm thực phẩm "nguy hiểm" cần tránh trong 3 tháng đầu mang thai

Nhóm thực phẩm không nên ăn trong 3 tháng đầu mang thai .Vì sao không nên ăn rau ngót ,dứa ,nước dừa, măng và cà muối đầu thai kỳ ?

Ba tháng đầu tiên của thời kỳ mang thai là thời kỳ quan trọng nhất, dễ xảy ra các tai biến nhất vì đây là giai đoạn thai nhi đang dần dần hình thành trong cơ thể mẹ, cơ thể mẹ cũng đang có những thay đổi để phù hợp với thai kỳ, trong khi đó bản thân người mẹ cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc thai kỳ của mình, đặc biệt là ở những người mẹ lần đầu tiên mang thai. Vậy, trong ba tháng đầu bạn nên có những chú ý gì trong ăn uống, những thực phẩm nên "kiêng khem" không nên ăn  theo kinh nghiệm của người xưa cũng như khoa học ngày này.Amigo xin tổng hợp và giới thiệu bạn đọc trong bài viết này?

Nhóm thực phẩm nguy hiểm cần tránh :


1.Rau ngót 

Trong 3 tháng đầu bà bầu tuyệt đối không nên ăn rau ngót đặc biệt là rau ngót tươi.bồ ngót - rau ngót có nhiều lợi ích cho sức khoẻ (thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tăng tiết nước bọt, hoạt huyết, tiêu ứ, bổ huyết, cầm máu, nhuận tràng, sát khuẩn, tiêu viêm, sinh cơ…) nhưng cũng có cảnh báo uống nhiều nước bồ ngót ở dạng lá tươi xay nhuyễn có thể dẫn đến một số phản ứng phụ như: gây co thắt cơ trơn tử cung gây sảy thai, bàng quang, ruột dẫn đến tiêu chảy, co thắt mạch máu gây đau nhức cơ, mất ngủ, nhức đầu, cao huyết áp, hoặc thiếu máu não ở người lớn tuổi.


ăn rau ngót dễ sảy thai

Cũng do những tính chất trên nên không được dùng bồ ngót tươi cho các trường hợp nhức nửa đầu, tăng huyết áp nội sọ, táo bón, ngủ gật ban ngày, bệnh phù niêm mạc do suy tuyến giáp, phụ nữ đang mang thai. Nguyên nhân của các hiện tượng này là trong bồ ngót tươi có chứa một chất có cấu trúc gần giống như papaverin (một alkaloid có trong á phiện). Dược thư Việt Nam 2002 ghi rõ “Không dùng papaverin cho người có thai”. Như vậy trong bồ ngót tươi có chứa một hàm lượng papaverin, nếu dùng trên 30g lá tươi thì dễ có nguy cơ sảy.

 2.Đu đủ xanh 

đu đủ xang và bà bầu

 Bác sĩ Hồ Ngọc Hồng, Trưởng khoa Nội 2, Viện Y Dược học dân tộc TP HCM, cho biết, một nghiên cứu của Viện Đại học Sussex (Anh) đã chứng minh tác động không có lợi của đu đủ đối với những phụ nữ đang muốn thụ thai. Thực phẩm này có tác dụng ức chế hoóc môn progesterone, làm ngăn cản quá trình thụ thai. Do đó, việc ăn đu đủ thường xuyên làm phụ nữ  khó mang bầu.

Ngoài ra, chất papain trong quả đu đủ xanh phá huỷ màng tế bào phôi thai, có thể dẫn đến sẩy thai. Do đó, các bà bầu nên tránh ăn đu đủ xanh

 3.Dứa

 Dứa được biết đến như một loại thực phẩm chức năng, hữu ích cho sức khỏe, có chứa nhiều vitamin A, C, mangan, kali, magiê… bảo vệ các mô khỏi quá trình oxy hóa dẫn đến stress. Nghiên cứu mới nhất cho thấy, bromelain trong dứa có tác dụng giảm hiện tượng sưng phù. Ăn dứa cũng có tác dụng giải khát, đẹp da, duy trì cân nặng.
 dứa cho bà bầu
Nhưng trong dứa  chứa nhiều enzyme bromelain, có tác dụng làm mềm khung xương chậu, nên khiến cho quá trình chuyển dạ dễ dàng hơn .Tuy nhiên, nhóm thai phụ mắc chứng bệnh về dạ dày, bị chấn thương liên quan đến gãy xương lại nên hạn chế ăn dứa. Bởi vì, dứa có tính axit mạnh nên ăn nhiều dễ gây tiêu chảy (nhất là khi ăn phải quả dứa còn xanh) hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển của xương.

Bà bầu có thể bị dị ứng dứa. Đây là phản ứng của cơ thể với protein có trong dứa. Những biểu hiện của dị ứng dứa là: đau bụng, tiêu chảy, có thể xuất hiện ngứa toàn thân; bạn cũng có thể cảm thấy tê lưỡi, khó thở… Bác sĩ khuyến cáo, để tránh dị ứng dứa thì sau khi gọt vỏ, bạn nên cắt dứa thành từng miếng, ngâm nước muối nhạt 30 phút. Làm như vậy không chỉ tránh được hiện tượng rát lưỡi khi ăn dứa; mà còn giúp bạn thấy dứa có vị thơm, ngon hơn.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chị em phải hoàn toàn "đoạn tuyệt" với dứa trong suốt thời kỳ mang thai. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, mẹ bầu chỉ cần kiêng ăn hoặc uống sinh tố dứa trong thời gian 3 tháng đầu thai kỳ. Sau khi đã qua giai đoạn nhạy cảm này, trong những giai đoạn bầu bí tiếp theo mẹ bầu vẫn có thể ăn một lượng vừa phải.
Nên để đảm bảo an toàn thai phụ không nên ăn dứa hoặc ăn vừa đủ cũng như tùy vào cơ địa và cơ thể mà có lựa chọn  hợp lý cho loại thực phẩm này.

4.Nước dừa 

nươc dừa mang thai

 Bà bầu mới mang thai không nên uống nước dừa, vì sao vậy? Theo GS.TSKH Bùi Quốc Châu, giám đốc Trung tâm Diện chẩn điều khiển liệu pháp và xoa bóp Việt Nam, trong nước dừa có chứa hàm lượng chất béo rất cao (2%) nên uống nhiều sẽ gây đầy bụng, khó tiêu. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu thường xuyên bị nôn ói, ốm nghén, uống loại nước này sẽ làm tình trạng bệnh thêm trầm trọng hơn.
Thêm vào đó, nước dừa nhất là dừa xiêm thuộc âm, tức là có tính giải nhiệt, làm mát, làm mềm yếu gân cơ, hạ huyết áp vì vậy nó không tốt tí nào cho mẹ bầu những tháng đầu.
Tuy nhiên sau thời kỳ 3 tháng đầu thì bạn có thể uống nước dừa.Loại nước được cho là thứ "nước vàng" cho bà bầu. 
Nước dừa cũng rất giàu axit lauric mà khi vào cơ thể sẽ được chuyển hoá thành monolaurin, có tác dụng chống lại các vi rút, vi khuẩn có lớp vỏ lipit; kháng nấm giúp bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh viêm nhiễm và tăng cường hệ miễn dịch.Tuy nhiên, chị em chỉ nên uống 1 quả mỗi ngày và không nên uống buổi tối .

5.Măng

Mang có tốt cho bà bầ

 Măng ăn rất ngon,tuy nhiên trong măng có nhiều độc tố nên không tốt cho cơ thể đặc biệt là phụ nữ có thai, bởi vì phụ nữ có thai đã thường bị nhức, đau lưng trong măng có nhiều độc tố làm ra tăng những triệu chứng này cho bà bầu.Cụ thể măng tươi có chứa nhiều độc tố, đặc biệt là glucozit sinh acid xyanhydric. Khi gặp men tiêu hóa trong dạ dày, gặp chất chua, glucozit bị thủy phân và giải phóng acid xyanhydric (HCN). Chính acid này gây ngộ độc, nôn mửa, giống như khi bị ngộ độc sắn. Chính vì vậy, nhiều người khuyên bà bầu không nên ăn măng. Tuy nhiên, vấn đề trên chỉ xảy ra nếu bạn ăn với mức độ quá nhiều và thường xuyên. Lời khuyên của các chuyên gia dinh dưỡng là phụ nữ mang thai nên hạn chế ăn măng 1 tháng chỉ nên ăn 2 bữa với khoảng 200-300gam và nếu muốn ăn, chị em nên tự mua măng tươi về chế biến để đảm bảo an toàn vệ sinh. Cách chế biến măng tươi giảm độc tố là cho măng vào nồi luộc sôi kỹ 2-3 lần. Trong khi sôi bạn nhớ mở vung để độc tố bay ra. Sau đó mới chế biến món ăn. Cách làm này sẽ hạn chế được độc tố trong măng, giúp bà bầu ăn an toàn hơn 

 6.Cà muối


Câu nói: “Một quả cà bằng ba thang thuốc” nhắc nhở chúng ta nên thận trọng khi ăn uống.Đặc biệt với bà bầu trong đầu thai kỳ dễ bị nhiễm độc ,nôn mửa khó chịu cơ thể mệt mỏi càng không nên ăn cà (cà pháo, cà tím, cà bát.).Khi mang thai cơ thể của bà bầu nóng hơn rất nhiều so với người bình thường nên không nên ăn cà làm tăng tính nóng cho cơ thể.Ca muối là món ăn dễ ăn dễ vào cơm nhưng cần hạn chế và ăn vừa phải để đảm bảo cho sức khỏe bà bầu .

Trên đây chỉ là những tổng hợp mang tính tương đối về nhóm thực phẩm cần và nên tránh trong thời kỳ đầu mang thai.Mọi thông tin và đóng góp bạn đọc vui lòng comment phía dưới bài viết. Amigo sẽ trả lời bạn đọc và đồng thời hoàn thiện bài viết hơn nữa.
Biên tập và st : Amigo 



Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Tìm hiểu về chất Lutein có nhiều trong lòng đỏ trứng



Lutein là một loại carotenoid, có nghĩa là màu, hoặc sắc tố tự nhiên, được tìm thấy trong các loại rau lá xanh như rau bina, cộng với nhiều loại trái cây và bắp. Lòng đỏ trứng cũng là nguồn lutein.
tim-hieu-Lutein

Lutein cung cấp hỗ trợ dinh dưỡng cho mắt và da của chúng ta - các cơ quan của cơ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài. Lutein đã được liên kết để thúc đẩy đôi mắt khỏe mạnh thông qua việc giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng. Nghiên cứu khác cho thấy rằng một hỗn hợp các chất dinh dưỡng, bao gồm lutein, có thể cung cấp bổ sung khả năng chống oxy hóa cho da, giúp chống lại thiệt hai bởi các gốc tự do.

Tại sao lutein lại quan trọng trong chế độ ăn uống của chúng ta ?

Lutein là một chất chống oxy hóa xuất hiện để đào thải hoặc làm giảm các gốc tự do nguy hại có mặt ở các bộ phận của cơ thể. Các gốc tự do là nguyên nhân gây ra hàng loạt các bệnh mãn tính. Lutein cũng lọc năng lượng cao, lutein cũng giúp lọc đi 90% các bước sóng màu xanh có năng lượng cao do các ánh sáng hữu hình và các quang phổ gây ra. Bước sóng màu xanh, cả trong ánh sáng trong nhà và ánh sáng mặt trời, được cho là gây oxy hóa và các gốc tự do gây thiệt hại trong các cơ quan nội tạng của cơ thể người khi tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng, chẳng hạn như là mắt và da. Ánh sáng màu xanh không giống như tia cực tím thường được biết đến với bước sóng A và bước sóng B của quang phổ không nhìn thấy.

Chúng ta cần bao nhiêu Lutein mỗi ngày?

Nghiên cứu cho thấy là chúng ta cần tối thiểu 6-10mg lutein mỗi ngày từ các loại rau xanh lá hay các nguồn thực phẩm khác để có một sức khỏe tốt từ lutein. Ngay cả khi bạn ăn uống cân bằng, bạn cần 1 bát rau chân vịt tươi để có thể có được 6mg lutein. Lutein cũng phổ biến rộng rãi trong một loạt các sản phẩm dinh dưỡng bổ sung, thực phẩm tăng cường hay các loại nước uống cho những người muốn bổ sung vào chế độ ăn uống giàu lutein của họ, giúp tốt hơn cho da và mắt. Chưa có báo cáo nào về sự tương tác giữa lutein và thuốc, nhưng để chắc chắn về sự tương tác giữa thuốc bạn đang dùng và lutein bổ sung, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Lutein làm việc như thế nào trong cơ thể chúng ta?

Lutein là một hợp chất quan trọng trong cơ thể con người, nhưng cơ thể không thể tự tổng hợp lên lutein. Ăn các thức ăn có chứa nhiều lutein, bổ sung chế độ ăn uống có lutein là cách duy nhất cho cơ thể bạn có được lutein. Lutein có ở trong mắt, huyết thanh máu, da, cổ tử cung, não và vú. Bên trong mắt, lutein tập trung nhiều ở điểm vàng của võng mạc và phân tán với số lượng thấp hơn trong toàn bộ võng mạc và mắt.

Trong da, lutein được đưa vào lớp biểu bì ( lớp ngoài) và lớp hạ bì (lớp bên trong) cung cấp chất chống oxy hóa và các chức năng hấp thụ ánh sáng xanh trong suốt chiều sâu của da.

Lutein là an toàn khi ăn vào với số lượng hợp lý.

Lutein được đánh giá bới một cơ quan tổ chức quốc tế độc lập công nhận trên toàn thế giới để thiết lập sự an toàn của phụ gia thực phẩm. Tổ chức này được gọi là Ủy ban Chuyên gia về phụ gia thực phẩm ( JECFA) trực thuộc Tổ chức Y tế Thế giới / Liên Hiệp Quốc. JECFA xác định hàng ngày một lượng chấp nhận được (ADI) cấp cho lutein lên đến 2mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể, tương đương với khoảng 140mg lutein mỗi ngày cho một người cân nặng 70kg. Sự an toàn của lutein cũng được đánh giá bởi Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA). Họ tiến hành đánh giá riêng các kết luận của họ bởi một bảng tổng kết của các chuyên gia an toàn thực phẩm.